|
Khủng hoảng kép hay cơ hội mua cổ phiếu khi
thị trường điều chỉnh?
Những nỗi lo về
cuộc khủng hoảng nợ quốc gia ở châu Âu và khả năng suy thoái kép đã khiến các
chỉ số chứng khoán thế giới có một tháng 5 đáng thất vọng. Các chỉ số chứng
khoán Mỹ giảm trung bình 8%-9% trong tháng và có tháng 5 giảm sâu nhất kể từ
cuộc đại suy thoái vào năm 1940. Vấn đề hiện tại đã không còn là liệu vay nợ
của châu Âu và các chính phủ khác là có đáng lo ngại hay không? Câu hỏi hiện
tại là vấn đề này đáng lo ngại đến mức nào?
1. Tình hình châu Âu và những quan điểm trái
ngược
Một số ý kiến lo
sợ về khả năng nợ quốc gia sẽ dẫn tới sự suy thoái kép trên toàn cầu. Điều này
tương đương với việc GDP âm trở lại trong 1-2 quý liên tiếp. Cho tới này thì
viễn cảnh này chưa có xác suất xảy ra cao. Một số nước châu Âu cụ thể (Hy Lạp,
Tây Ban Nha, Ai len) đã và sẽ có suy thoái kép, nhưng châu Âu nói chung vẫn được
OECD dự báo sẽ tăng trưởng dương trong năm nay. Cuộc khủng hoảng nợ quốc gia
này được hy vọng là sẽ được hạn chế quanh khu vực châu Âu (thay vì lan ra toàn
thế giới).
Ít có nguy cơ
suy thoái kép trên toàn cầu nhưng khủng hoảng châu Âu sẽ khiến việc rút lại các
gói kích thích kinh tế chậm lại. Điều này có thể tốt trong ngắn hạn (với các
kênh đầu tư vào tài sản rủi ro) nhưng điều này không làm bớt đi những rủi ro
với tương lai của nền kinh tế thế giới. Riêng với châu Âu hiện còn nhiều câu
hỏi chưa được giải đáp: Liệu Hy Lạp có vỡ nợ không và nếu có khi nào điều này
sẽ diễn ra? Các ngân hàng châu Âu đang nắm giữ khoảng 2800 tỷ đô la Mỹ (89% số nợ cho vay của các tổ chức
quốc tế) vào các khoản nợ chính phủ của các nước PIIGS sẽ bị ảnh hưởng ra sao?
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tới tiêu dùng và niềm tin cua giới đầu tư? Trung
Quốc sẽ có chính sách như thế nào đối với các khoản đầu tư vào EUR, với chính
sách tỷ giá và chính sách kinh tế chung trong bối cảnh này?
Nỗi lo suy thoái
hay thấp hơn là tăng trưởng chậm cũng một lần nữa đặt ra câu hỏi: liệu các chỉ
số chứng khoán có đang đi quá nhanh trước sự phục hồi chậm chạp của nền kinh tế
thế giới, trong khi rủi ro gia tăng từ việc rút các chính sách kích thích tài
chính nhằm giảm nợ công? Trong đợt suy thoái trước, chỉ số Dow Jones đã mất 3
-4 năm để tăng từ mức đáy vào năm 2002 lên mức 10.000-11.000 điểm vào năm
2005-2006. Tính từ đáy khủng hoảng hiện tại vào tháng 2/2009 với một mức đáy
sâu hơn 2002 là 14%, Dow Jones chỉ mất 1 năm để tăng trở lại mức trên 10.000
điểm, trong khi các yếu tố cơ bản như tiêu dùng và thất nghiệp chỉ có sự hồi
phục vừa phải (tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức 9,9%), cho thấy sự đi lên phần nhiều
là do ảnh hưởng của việc dư thừa tiền và tâm lý yêu thích rủi ro trên toàn thế
giới.
2. Diễn biến kinh tế và thị trường chứng khoán
Việt Nam:
hưởng lợi hay thiệt hại từ châu Âu
Tại Việt Nam, ảnh
hưởng trước mắt của nỗi lo khủng hoảng nợ châu Âu chủ yếu mang tính chất tâm lý
nhưng lại “hợp lý” khi nhà đầu tư có nhu cầu cắt giảm danh mục đầu tư khi rủi
ro gia tăng khi một khả năng xấu (khủng hoảng kép) có xác suất trở thành hiện
thực. Vào cuối tuần trước, khi chỉ số rủi ro của các thị trường thế giới giảm
xuống, chúng tôi thấy trở lại những động thái mua và tạo dựng lại danh mục nhất
là khi các chỉ số chứng khoán đã rơi vào vùng “quá bán” tạo cơ hội thu lợi nhuận
mang tính kỹ thuật ít nhất là trong ngắn hạn.
Xét về dài hạn,
tình hình châu Âu thực chất vẫn chưa được giải quyết và sẽ không thể giải quyết
được trong một sớm một chiều. Ảnh hưởng trực tiếp của châu Âu đến Việt Nam là
không quá lớn: châu Âu chiếm khoảng 16,6% giá trị xuất khẩu và 9,3% giá trị nhập
khẩu, đầu tư FDI của Châu Âu vào Việt Nam chiếm tỷ trọng nhỏ, cao nhất là Đức
đăng ký 110 triệu đô la Mỹ, Pháp 88 triệu). Tuy nhiên, EU là thị trường chính
mà Việt nam xuất siêu (3 tỷ đô la Mỹ nam 2009, chỉ đứng sau xuất siêu vào Mỹ là
8,4 tỷ) nên sự sụt giảm xuất siêu vào thị trường này sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới
cán cân thương mại. Cán cân thương mại có khả năng bị ảnh hưởng tiêu cực hơn
bởi các tác động gián tiếp như: nhu cầu nhập khẩu hàng hóa nguyên liệu thô từ
Việt Nam của các nước xuất khẩu vào châu Âu (Trung Quốc, Nhật Bản) giảm sút,
Việt Nam đồng neo vào đô la Mỹ nên sức cạnh tranh kém hơn các đồng tiền khác hiện
thả nổi tỷ giá, Trung Quốc không nâng giá Nhân Dân Tệ nên thâm hụt thương mại
đối với Trung quốc không được cải thiện. Do vậy, chúng tôi cho rằng thị trường
nội địa vững mạnh nhiều khả năng vẫn sẽ là động cơ thúc đẩy tăng trưởng chính
trong những năm tới, các doanh nghiệp với thị trường tiêu thụ nội địa sẽ có
nhiều cơ hội tăng trưởng hơn so với các doanh nghiệp xuất khẩu.
3. Diễn biến của thị trường chứng khoán trong
quý II/2010
Những động thái
tích cực của các nước châu Âu cũng như sự ủng hộ (ít nhất về mặt ngôn từ) của
Trung Quốc và Mỹ đã khiến nhà đầu tư toàn cầu tạm yên tâm. Tại Việt Nam, các
yếu tố về kỹ thuật cũng như các yếu tố vĩ mô (CPI tháng 5 thấp, CPI trong quý
II được ủng hộ bởi sự sụt giảm của giá hàng hóa nguyên vật liệu thế giới, chính
phủ nỗ lực giảm lãi suất ngân hàng, khả năng GDP quý II/2010 tốt) đang ủng hộ
một sự đi lên của thị trường, Tuy nhiên thị trường cần một động lực mạnh và rõ
ràng từ các biến chuyển về kinh tế vĩ mô (nới lỏng tín dụng mạnh mẽ hơn).
Nhân tố thứ hai
có tác động tới sự phân hóa trong thị trường là kết quả kinh doanh quý II sẽ của
các doanh nghiệp, theo dự đoán của chúng tôi sẽ không đồng đều, ngay cả trong một
ngành. Chẳng hạn, sự đi xuống giá nguyên vật liệu đầu vào do ảnh hưởng thế giới
có thể sẽ đem lại lợi nhuận tích cực cho những doanh nghiệp có hàng tồn kho
thấp, ngược lại, những doanh nghiệp có hàng tồn kho giá cao nhập trong các quý
trước sẽ chịu tác động tiêu cực trong ngắn hạn (ngành thép, ngành nhựa). Sự hồi
phục của chỉ số Sự nóng lên của thị trường đất tại Hà Nội có thể sẽ là điều
kiện tích cực cho việc bán hàng và hạch toán doanh thu của các doanh nghiệp bất
động sản hoạt động tại khu vực này trong khi hoạt động của các doanh nghiệp bất
động sản tại Hồ Chí Minh sẽ ít đột biến hơn. Trong ngành vận tải, sự đi lên của
chỉ số Baltic Dry Index sẽ khiến hoạt động của các doanh nghiệp được cải thiện
hơn, nhưng ảnh hưởng tới từng doanh nghiệp tùy vào thị trường (khu vực, loại
hàng hóa) cũng như đội tàu (số lượng tàu đang hoạt động, tuổi tàu). Nhà đầu tư cũng
cần chú ý tới hoạt động kinh doanh những nhóm cổ phiểu đã được hưởng lợi từ
hoàn nhập tài chính trong quý II/2009 và sẽ không còn hạch toán được khoản lợi
nhuận tài chính lớn tương đương trong quý II/2010 để xác định xu hướng thị
trường.
Thị trường đang
có định giá khá rẻ so với tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế và các công ty
niêm yết nói chung nên tương đối hấp dẫn cho đầu tư dài hạn. Thị trường cũng có
lực đỡ nhờ luồng tiền giải ngân của nhà đầu tư nước ngoài, một mức P/E tương
đối hấp dẫn (11 lần) và kế hoạch kinh doanh thận trọng của doanh nghiệp trong
điều kiện lạm phát đã được kiềm chế khá tốt. Tuy nhiên, thị trường quốc tế được
dự báo sẽ còn trải qua một mùa hè đầy biến động nên sẽ không ngạc nhiên nếu
trong ngắn hạn, nhà đầu tư trong nước tiếp tục ưu tiên lướt sóng và luôn sẵn
sàng có trạng thái giảm bớt danh mục. Thị trường sẽ chỉ đi lên bền vững hơn
(không có nghĩa là sẽ tăng trưởng nhanh hơn) khi các mối liên thông về tâm lý với
thị trường quốc tế giảm bớt (dự tính vào nửa sau mùa hè). Nhưng đó cũng là lúc
mà những đợt huy động vốn quy mô lớn của ngân hàng và các doanh nghiệp các ngành khác vào guồng, tạo
nên một lượng cung hàng lớn trên thị trường đồng thời hút tiền ra khỏi kênh thị
trường chứng khoán niêm yết.
Phòng Phân tích SHF.
|